Ấn tượng đầu tiên hình thành rất nhanh: các thí nghiệm cho thấy chỉ cần nhìn một gương mặt trong khoảng một phần mười giây, người ta đã có phán đoán về độ đáng tin, và những phán đoán đó khá giống với khi được nhìn lâu hơn. Nhưng nhanh và nhất quán không có nghĩa là đúng. Một số nét như hướng ngoại đọc được khá chính xác qua lát cắt ngắn, còn những điều quan trọng hơn như trung thực hay năng lực thật thì ấn tượng đầu dễ sai, và nó lại rất khó thay đổi.
Ta đọc người nhanh tới mức nào
Hai nhóm nghiên cứu thường được nhắc nhất:
- Nalini Ambady và Robert Rosenthal (Đại học Harvard). Năm 1992, trên Psychological Bulletin, họ tổng hợp các nghiên cứu về "lát cắt mỏng" (thin slices): những đoạn quan sát hành vi rất ngắn, dưới năm phút. Năm 1993, trên Journal of Personality and Social Psychology, họ công bố thí nghiệm nổi tiếng: người xem được chiếu những đoạn phim câm dài vài giây về các giảng viên đang dạy, rồi chấm các nét như tự tin, nhiệt tình. Điểm chấm của họ tương quan khá cao với đánh giá cuối học kỳ của chính sinh viên lớp đó. Kết quả vẫn giữ khi cắt đoạn phim xuống còn khoảng sáu giây.
- Janine Willis và Alexander Todorov (Đại học Princeton). Năm 2006, trên Psychological Science, họ cho người tham gia nhìn ảnh mặt người lạ trong 100 mili giây. Phán đoán về độ đáng tin, sự dễ mến và năng lực sau 100 mili giây tương quan khá chặt với phán đoán khi được nhìn không giới hạn thời gian. Nhìn lâu hơn chủ yếu làm người ta tự tin hơn chứ ít làm họ đổi ý.
Điểm cần chú ý ở thí nghiệm của Willis và Todorov: họ đo độ nhất quán giữa phán đoán nhanh và phán đoán chậm, không đo xem phán đoán có đúng với con người thật hay không. Hai chuyện này rất hay bị lẫn khi báo chí đưa tin.
Đọc nhanh thì đúng được cái gì
Không phải mọi nét đều khó đọc như nhau. Nhà tâm lý học David Funder, với mô hình độ chính xác thực tế (Realistic Accuracy Model, 1995), giải thích rằng một phán đoán về người chỉ đúng khi đủ bốn bước: người đó phải thể hiện ra một dấu hiệu liên quan đến nét tính cách, dấu hiệu phải hiện ra được trước mắt người quan sát, người quan sát phải để ý thấy nó, và phải dùng nó đúng cách. Đứt một bước là sai.
| Loại nét | Đọc qua ấn tượng đầu | Vì sao |
|---|---|---|
| Hướng ngoại, nói nhiều, năng nổ | Khá chính xác | Biểu hiện ra ngay ở giọng, cử chỉ, cách bắt chuyện |
| Lo âu, căng thẳng | Đúng một phần | Có dấu hiệu bên ngoài nhưng dễ che |
| Trung thực, đáng tin | Kém | Hiếm khi có dấu hiệu bên ngoài đáng tin cậy; người lừa đảo giỏi chính là người tạo ấn tượng đáng tin |
| Năng lực chuyên môn | Kém, dễ bị tự tin đánh lừa | Tự tin và ngoại hình dễ thấy hơn năng lực thật |
Gương mặt đánh lừa ta thế nào
Năm 2005, Alexander Todorov và cộng sự công bố trên tạp chí Science một kết quả gây chú ý: cho người tham gia nhìn nhanh ảnh hai ứng viên tranh cử Thượng viện và Hạ viện Mỹ mà họ không biết là ai, rồi hỏi ai trông có năng lực hơn. Ứng viên được chọn là "trông có năng lực hơn" đã thắng trong khoảng bảy phần mười số cuộc đua Thượng viện được thử.
Kết quả này thường bị kể như bằng chứng cho "trực giác nhìn mặt rất tài". Thật ra Todorov rút ra bài học ngược lại. Trong cuốn Face Value (2017), ông lập luận rằng ta suy ra tính cách từ gương mặt rất nhanh và rất đồng thuận với nhau, nhưng những suy đoán đó phần lớn không chính xác. Việc cử tri bầu theo gương mặt cho thấy ấn tượng ảnh hưởng mạnh đến quyết định, không cho thấy ấn tượng nói đúng về con người. Khuôn mặt "trông đáng tin" thường chỉ là khuôn mặt hơi giống đang mỉm cười.
Vì sao ấn tượng đầu lại khó đổi
Năm 1946, Solomon Asch làm một thí nghiệm về hình thành ấn tượng: hai nhóm đọc cùng một danh sách tính từ mô tả một người, chỉ khác một từ "ấm áp" hoặc "lạnh lùng". Chỉ một từ đó đã làm thay đổi hẳn cách người đọc hình dung cả con người. Asch cũng cho thấy thứ tự quan trọng: đọc các tính từ tốt trước rồi mới tới tính từ xấu tạo ấn tượng tốt hơn so với đọc ngược lại, dù danh sách y hệt.
Năm 1950, Harold Kelley làm phiên bản thực tế hơn: sinh viên được báo trước rằng giảng viên khách mời là người "khá ấm áp" hoặc "khá lạnh lùng", rồi cùng dự một buổi học như nhau. Nhóm được báo "lạnh lùng" đánh giá ông kém hơn và ít đặt câu hỏi hơn.
Cơ chế chung: ấn tượng đầu trở thành cái khung để ta hiểu mọi thông tin đến sau. Một người ta đã thấy "khó chịu" mà im lặng thì là "kiêu"; một người ta đã thấy "dễ mến" mà im lặng thì là "từ tốn". Thông tin mới không được cân bằng mà bị nhuộm màu. Hiện tượng hào quang, khi một nét tốt làm ta đánh giá cao mọi nét khác, là một dạng thiên kiến được bàn kỹ ở nơi khác; ở đây chỉ cần nhớ rằng nó làm ấn tượng đầu tự củng cố chính nó.
Ấn tượng đầu vẫn có ích, nếu biết dùng
Không nên kết luận là bỏ hẳn ấn tượng đầu. Trong các nghiên cứu lát cắt mỏng, nó chứa thông tin thật về những nét biểu hiện ra ngoài. Và đôi khi, cảm giác bất an khi gặp ai đó là tín hiệu cần để ý. Cách dùng khôn ngoan là coi nó như một giả thuyết, không phải một kết luận:
- Ấn tượng tốt: được, nhưng chưa giao việc quan trọng, chưa cho vay tiền, chưa tin lời hứa khi chưa thấy việc làm.
- Ấn tượng xấu: được, nhưng tự hỏi mình đang dựa vào dấu hiệu gì. Nếu dấu hiệu chỉ là gương mặt, giọng nói địa phương hay quần áo, đó có thể là định kiến chứ không phải trực giác.
Góc nhìn hôm nay: sổ ghi ấn tượng đầu
Một cách tự luyện đơn giản, nhất là cho người hay phải đánh giá người khác (tuyển dụng, chọn đối tác, gặp người mới trong lớp học):
- Ghi ngay sau lần gặp đầu: ba nhận định về người đó, và bên cạnh mỗi nhận định ghi dấu hiệu bạn dựa vào ("có vẻ cẩn thận — vì đến đúng giờ và mang sổ ghi").
- Đánh dấu loại nét: nét đó thuộc nhóm dễ đọc (hướng ngoại) hay khó đọc (trung thực, năng lực)? Với nhóm khó đọc, tự nhắc mình đây mới là phỏng đoán.
- Xem lại sau ba tháng: nhận định nào đúng, nhận định nào sai. Sai vì dấu hiệu không liên quan, hay vì bạn đã nhìn thấy dấu hiệu nhưng đọc sai?
Sau vài chục người, bạn sẽ biết mình hay đoán đúng điều gì và hay bị đánh lừa bởi điều gì. Đó là một kiểu biết mình qua cách mình biết người. Muốn đọc thêm, cuốn Face Value của Alexander Todorov là một tổng quan dễ đọc và tỉnh táo về chuyện đọc mặt.
Câu hỏi thường gặp
Ấn tượng đầu tiên hình thành trong bao lâu?
Rất nhanh. Thí nghiệm của Willis và Todorov năm 2006 cho thấy chỉ cần nhìn ảnh một gương mặt trong 100 mili giây, người ta đã có phán đoán về độ đáng tin khá giống với khi nhìn lâu hơn.
Ấn tượng đầu tiên có đáng tin không?
Tuỳ nét. Những nét biểu hiện ra ngoài như hướng ngoại đọc được khá chính xác qua lát cắt ngắn; còn trung thực hay năng lực thật thì ấn tượng đầu thường kém chính xác. Nên coi nó là giả thuyết cần kiểm chứng.
"Lát cắt mỏng" là gì?
Là khái niệm của Nalini Ambady và Robert Rosenthal (1992–1993), chỉ những đoạn quan sát hành vi rất ngắn, dưới năm phút. Nghiên cứu của họ cho thấy vài giây phim câm về một giảng viên đủ để người lạ dự đoán khá sát đánh giá của sinh viên.
Nhìn mặt có đoán được tính cách không?
Phần lớn là không chính xác. Alexander Todorov, trong cuốn Face Value (2017), cho thấy người ta suy đoán từ gương mặt rất nhanh và rất giống nhau, nhưng những suy đoán đó thường sai với tính cách thật.
Vì sao ấn tượng đầu khó thay đổi?
Vì nó trở thành khung để ta hiểu thông tin đến sau, khiến những điều mới bị diễn giải theo hướng xác nhận ấn tượng cũ. Thí nghiệm của Asch (1946) và Kelley (1950) cho thấy chỉ một chữ "ấm áp" hay "lạnh lùng" đã đổi cách người ta nhìn cả con người.