Khôn NgoanWiki
Tìm
Biết mình, biết người

Tự nhận thức là gì: nhìn mình từ bên trong và từ bên ngoài

Tự nhận thức gồm hai mặt: hiểu mình muốn gì và hiểu người khác thấy mình ra sao. Mô hình của Tasha Eurich, nghiên cứu SOKA của Vazire và giới hạn của tự xét.

Tự nhận thức là gì: nhìn mình từ bên trong và từ bên ngoài

Tự nhận thức là khả năng thấy rõ mình: mình nghĩ gì, muốn gì, mạnh yếu ở đâu, và người khác nhìn mình ra sao. Nhà tâm lý học tổ chức Tasha Eurich, trong cuốn Insight (2017), tách nó thành hai mặt khác nhau: tự nhận thức bên trong (hiểu giá trị, cảm xúc, mong muốn của chính mình) và tự nhận thức bên ngoài (hiểu người khác thấy mình thế nào). Hai mặt này không đi cùng nhau: có người hiểu nội tâm rất kỹ mà không biết mình gây ấn tượng gì với ai, và ngược lại.

Từ "tự ý thức" đến "tự nhận thức": khái niệm này đến từ đâu

Tâm lý học bắt đầu đo đạc chuyện tự nhìn mình khá muộn. Một mốc thường được nhắc là thuyết tự ý thức khách quan của Shelley Duval và Robert Wicklund năm 1972. Họ cho rằng khi chú ý dồn vào chính mình, chẳng hạn khi đứng trước gương hay nghe giọng mình thu âm, người ta bắt đầu so mình với chuẩn mực mình đặt ra. Thấy lệch thì khó chịu, và hoặc là sửa hành vi, hoặc là tìm cách thôi chú ý vào mình.

Lý thuyết này nói về một trạng thái nhất thời: lúc nào ta đang chú ý vào mình. Còn tự nhận thức theo nghĩa phổ thông hôm nay là một năng lực bền hơn: nhìn mình có đúng hay không. Chú ý vào mình nhiều không đồng nghĩa với nhìn mình đúng. Người lo âu thường nghĩ về bản thân suốt ngày, nhưng cái họ thấy chưa chắc là thật.

Hai mặt bên trong và bên ngoài

Đóng góp dễ dùng nhất của Eurich là tách hai mặt và ghép chúng thành bốn kiểu người. Đây là mô hình để suy nghĩ, không phải bài trắc nghiệm chẩn đoán:

Bên ngoài thấp (không biết người khác thấy mình ra sao)Bên ngoài cao (biết người khác thấy mình ra sao)
Bên trong cao (hiểu mình muốn gì)Người tự xét: rõ mình là ai nhưng không kiểm lại với ai, dễ có điểm mùNgười tỉnh: vừa hiểu mình vừa biết mình được nhìn ra sao
Bên trong thấp (không rõ mình muốn gì)Người đang tìm: chưa rõ cả hai, thường thấy lạc hướngNgười chiều lòng: chăm chút hình ảnh trong mắt người khác, quên hỏi mình thật sự muốn gì

Eurich cũng đưa ra một con số được trích rất nhiều: phần lớn người được hỏi tin rằng mình tự nhận thức tốt, nhưng theo các tiêu chí của nhóm bà, chỉ khoảng 10 đến 15 phần trăm thật sự đạt. Nên đọc con số này thận trọng. Nó là ước tính từ dự án nghiên cứu của chính nhóm, dựa trên cách đo do họ đặt ra, và được công bố chủ yếu qua sách và bài báo phổ thông chứ không phải một loạt nghiên cứu độc lập lặp lại. Ý chính đáng giữ là: cảm giác "mình hiểu mình" không phải bằng chứng là mình hiểu mình.

Bằng chứng: có những điều người khác biết về ta rõ hơn ta

Bằng chứng khoa học vững hơn cho mặt "bên ngoài" đến từ Simine Vazire. Trong bài báo năm 2010 trên Journal of Personality and Social Psychology, bà đề xuất mô hình bất đối xứng hiểu biết giữa mình và người khác (SOKA). Bà so điểm tự đánh giá và điểm bạn bè đánh giá với các thước đo khách quan hơn, như bài kiểm tra trí tuệ hay hành vi được quan sát trong phòng thí nghiệm.

  • Với những nét bên trong, khó quan sát như lo âu: tự đánh giá chính xác hơn bạn bè đánh giá.
  • Với những nét dễ thấy và mang tính khen chê như thông minh, sáng tạo: bạn bè đánh giá chính xác hơn, vì ta có động cơ tô đẹp chính mình ở những điểm này.
  • Với những nét dễ thấy nhưng ít khen chê như hướng ngoại, nói nhiều: hai bên đều khá đúng.

Kết quả này cho thấy biết mình không chỉ là chuyện nhìn vào trong cho kỹ. Ở những điểm mà lòng tự trọng bị đặt cược, mắt người ngoài là dụng cụ đo tốt hơn. Đó là cơ sở cho việc xin nhận xét, được bàn ở bài riêng trong chuyên mục.

Vì sao nhìn vào trong cũng dễ sai

Ngay cả mặt bên trong cũng không đáng tin như ta tưởng. Năm 1977, Richard Nisbett và Timothy Wilson công bố bài tổng quan nổi tiếng "Telling more than we can know" (tạm dịch: Nói ra nhiều hơn điều ta biết) trên Psychological Review. Họ gom nhiều thí nghiệm cho thấy khi được hỏi vì sao mình chọn hay làm một việc, người ta trả lời rất tự tin, nhưng lý do đưa ra thường không khớp với yếu tố thật sự đã tác động.

Một ví dụ hay được kể: người tham gia chọn đôi tất "tốt nhất" trong bốn đôi giống hệt nhau xếp thành hàng, và có xu hướng chọn đôi nằm bên phải. Khi được hỏi, không ai nói vì vị trí; họ nói về chất vải, độ mềm. Kết luận của hai tác giả không phải là ta không biết gì về mình, mà là ta hay đoán lý do của mình theo những gì nghe có lý, rồi tin vào lời đoán đó như thể đã nhìn thấy tận nơi.

Đây là lý do việc tự hỏi "tại sao mình như vậy" không phải lúc nào cũng dẫn tới hiểu mình hơn. Có một cách hỏi khác hiệu quả hơn, được bàn trong bài "hỏi cái gì thay vì tại sao".

Tự nhận thức khác những khái niệm gần nó thế nào

Khái niệmLà gìKhác tự nhận thức ở chỗ
Tự ý thức (lúc chú ý vào mình)Trạng thái dồn chú ý vào bản thânChỉ là chú ý, chưa chắc nhìn đúng
Nghĩ quẩnLặp đi lặp lại suy nghĩ tiêu cực về mìnhNhiều suy nghĩ về mình nhưng ít hiểu thêm
Tự trọngMình đánh giá giá trị của mình cao hay thấpLà cảm giác, không phải độ chính xác
Khiêm tốn trí tuệNhận ra hiểu biết của mình có thể saiÁp vào hiểu biết nói chung, tự nhận thức áp vào chính mình

Bảng này giúp tránh một nhầm lẫn phổ biến: người hay tự trách không phải là người tự nhận thức cao. Họ có thể nhìn mình rất lệch, chỉ là lệch về phía xấu.

Góc nhìn hôm nay: bốn việc làm được trong một tháng

Tự nhận thức không đến từ một lần ngồi suy nghĩ thật lâu, mà từ những phép kiểm nhỏ lặp lại. Có thể thử bốn việc sau:

  1. Ghi dự đoán rồi đối chiếu. Trước một buổi họp hay một cuộc nói chuyện khó, viết ra một câu: "Mình đoán mình sẽ phản ứng thế này nếu bị phản đối." Sau đó ghi lại điều thật sự xảy ra. Sau năm sáu lần, bạn có dữ liệu về khoảng cách giữa hình dung và thực tế.
  2. Hỏi một người về một nét cụ thể. Chọn một nét "dễ thấy và mang tính khen chê" theo cách chia của Vazire, như cách bạn nói khi bất đồng, rồi hỏi một người hay làm việc cùng. Hỏi về một lần cụ thể, không hỏi chung chung.
  3. Tách cảm xúc khỏi phán xét. Khi thấy khó chịu, gọi tên cảm xúc trước ("mình đang bực vì bị ngắt lời") rồi mới nghĩ tới chuyện ai đúng ai sai.
  4. Đọc lại chính mình sau một tháng. Những ghi chép ngắn, đọc lại sau vài tuần, thường cho thấy những khuôn lặp mà lúc viết không nhận ra.

Muốn đọc thêm, cuốn Insight của Tasha Eurich dễ đọc nhưng thiên về kinh doanh; đọc kèm bài của Nisbett và Wilson (1977) để thấy giới hạn của việc tự nhìn vào trong. Những ai thích phương Đông có thể đọc chương 33 Đạo Đức Kinh, nơi Lão Tử nói biết mình là "minh", sáng hơn cả biết người.

Câu hỏi thường gặp

Tự nhận thức là gì?

Tự nhận thức là khả năng thấy rõ mình, gồm hai mặt: hiểu giá trị, cảm xúc, mong muốn của mình (bên trong) và hiểu người khác nhìn mình thế nào (bên ngoài). Cách chia này được Tasha Eurich phổ biến trong cuốn Insight năm 2017.

Tự nhận thức bên trong và bên ngoài khác nhau thế nào?

Bên trong là biết mình muốn gì, cảm thấy gì, vì sao làm vậy. Bên ngoài là biết mình gây ấn tượng, tác động gì lên người khác. Một người có thể mạnh mặt này mà yếu mặt kia.

Có đúng là chỉ 10–15% người thật sự tự nhận thức không?

Đó là ước tính của Tasha Eurich dựa trên dự án nghiên cứu và cách đo của nhóm bà, chưa được nhiều nghiên cứu độc lập lặp lại. Nên coi nó là lời nhắc rằng cảm giác hiểu mình không đảm bảo là hiểu đúng, không phải một con số chính xác.

Vì sao người khác có thể hiểu ta rõ hơn chính ta?

Nghiên cứu của Simine Vazire năm 2010 cho thấy ở những nét dễ thấy và mang tính khen chê như thông minh, sáng tạo, bạn bè đánh giá chính xác hơn bản thân. Lý do là ta có động cơ tô đẹp mình ở đúng những điểm đó.

Hay suy nghĩ về bản thân có phải là tự nhận thức cao không?

Không hẳn. Nghĩ nhiều về mình có thể chỉ là nghĩ quẩn hoặc tự trách, vẫn nhìn mình lệch. Tự nhận thức đo bằng độ đúng của cái nhìn, không đo bằng thời gian dành để nghĩ về mình.

Mở app Khôn Ngoan

Cờ thế, qua sông, lưới logic, cân đồng giả

Mở app Khôn Ngoan

Bài viết liên quan

Mở app Khôn Ngoan

Cờ thế, qua sông, lưới logic, cân đồng giả

Mở app Khôn Ngoan Xem app khác