Giả thuyết bà ngoại (grandmother hypothesis) cho rằng phụ nữ loài người sống lâu sau khi hết khả năng sinh con vì những người bà khoẻ mạnh giúp con gái nuôi cháu, nhờ đó con cháu sống sót nhiều hơn và gen của bà được truyền tiếp. Giả thuyết được nhà nhân học Kristen Hawkes và cộng sự trình bày nổi tiếng nhất trong bài báo năm 1998, dựa trên quan sát người Hadza ở Tanzania. Đến nay nó có nhiều bằng chứng ủng hộ, nhưng vẫn là một trong vài lời giải đang được tranh luận, chưa phải kết luận cuối cùng.
Câu đố của tuổi mãn kinh
Trong thế giới động vật, hiếm loài nào mà con cái sống thêm hàng chục năm sau khi ngừng sinh sản. Tinh tinh, họ hàng gần của người, thường sinh con gần tới cuối đời; con cái già yếu và chết không lâu sau khi khả năng sinh sản giảm. Ở người, mãn kinh thường xảy ra quanh tuổi năm mươi, nhưng một phụ nữ có thể sống thêm ba bốn chục năm khoẻ mạnh.
Với thuyết tiến hoá, đây là một câu đố. Chọn lọc tự nhiên "quan tâm" tới việc truyền gen. Một cá thể không sinh con nữa thì sống lâu để làm gì? Vì sao tiến hoá không kéo dài khả năng sinh sản đến cuối đời như ở tinh tinh?
Cũng cần gạt một hiểu lầm: người ta hay nghĩ thời xưa ai cũng chết sớm, nên tuổi già là "sản phẩm của y học hiện đại". Tuổi thọ trung bình lúc sinh thời xưa thấp chủ yếu vì rất nhiều trẻ chết khi còn nhỏ. Michael Gurven và Hillard Kaplan (2007), tổng hợp số liệu các nhóm săn bắt hái lượm còn sống tới thời hiện đại, cho thấy người nào qua được tuổi thiếu niên thì nhiều khả năng sống tới sáu, bảy mươi tuổi. Tuổi già, và người bà, đã có mặt trong đời sống loài người từ rất lâu.
Những người bà đào củ ở Tanzania
Người Hadza sống bằng săn bắt và hái lượm ở vùng hồ Eyasi, phía bắc Tanzania. Từ thập niên 1980, nhóm của Kristen Hawkes, James O'Connell và Nicholas Blurton Jones (khi đó ở Đại học Utah và các đại học khác) theo dõi chi tiết ai kiếm được bao nhiêu thức ăn mỗi ngày.
Họ thấy những phụ nữ đã qua tuổi sinh nở làm việc rất chăm: dành nhiều giờ mỗi ngày đào củ dại dưới đất cứng, loại thức ăn trẻ nhỏ không tự đào được. Khi con gái của họ sinh con mới, thời gian bà đi kiếm thức ăn tăng lên, và cân nặng của các cháu đã cai sữa phụ thuộc rõ vào công sức của bà, nhất là khi mẹ đang bận nuôi em bé.
Năm 1998, Hawkes, O'Connell, Blurton Jones, Helen Alvarez và Eric Charnov công bố bài "Grandmothering, menopause, and the evolution of human life histories" trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences. Lập luận của bài: khi tổ tiên loài người chuyển sang thức ăn mà trẻ nhỏ không tự kiếm được, những phụ nữ lớn tuổi còn khoẻ có thể giúp con gái cai sữa con sớm hơn và sinh con tiếp nhanh hơn. Gen kéo dài tuổi thọ khoẻ mạnh vì thế được chọn lọc, còn khả năng sinh sản thì không kéo dài theo.
Bằng chứng từ sổ sách nhà thờ và loài cá voi
Năm 2004, Mirkka Lahdenperä và cộng sự công bố trên tạp chí Nature một phân tích sổ sách giáo xứ ở Phần Lan và Canada thế kỷ 18–19, theo dõi nhiều thế hệ. Họ thấy phụ nữ sống thêm sau tuổi năm mươi có nhiều cháu hơn, và khi bà còn sống gần đó thì cháu có cơ hội sống sót cao hơn. Bà mất hoặc ở xa thì lợi ích ấy giảm.
Rebecca Sear và Ruth Mace (2008) tổng hợp nghiên cứu ở nhiều xã hội khác nhau và đưa ra bức tranh tinh tế hơn: sự có mặt của bà ngoại thường gắn với tỷ lệ trẻ sống sót cao hơn, còn bà nội thì kết quả lẫn lộn, có nơi giúp ích, có nơi không. Điều này phù hợp với ý rằng ai giúp và giúp thế nào còn tuỳ tổ chức gia đình của từng xã hội.
Ngoài loài người, cá voi sát thủ là trường hợp nổi bật. Lauren Brent và cộng sự (2015) phân tích nhiều năm quan sát đàn cá voi sát thủ ở vùng biển phía tây bắc Bắc Mỹ, cho thấy những con cái đã ngừng sinh sản thường dẫn đầu đàn khi đi kiếm cá hồi, nhất là trong những năm cá hiếm. Kinh nghiệm của "bà" về nơi có thức ăn trở thành vốn quý của cả đàn.
Những lời giải khác và chỗ còn tranh luận
| Giả thuyết | Ý chính | Điểm yếu thường bị nêu |
|---|---|---|
| Giả thuyết bà ngoại (Hawkes, 1998) | Bà giúp nuôi cháu, nhờ đó gen sống lâu được chọn lọc | Ở nhiều tập dữ liệu, lợi ích đo được khá nhỏ so với lợi ích nếu bà tự sinh thêm con |
| Giả thuyết người mẹ "dừng sớm" (George C. Williams, 1957) | Sinh con ở tuổi cao nguy hiểm, mẹ dừng sinh để chăm cho những đứa đã có lớn lên | Nói về người mẹ hơn là người bà, khó tách bằng số liệu |
| Vốn kiến thức và kỹ năng (Kaplan và cộng sự) | Người già nắm kỹ năng kiếm ăn và kiến thức cần nhiều năm mới có, có ích cho cả nhóm | Áp dụng cho cả nam lẫn nữ, không giải thích riêng tuổi mãn kinh |
| Xung đột sinh sản giữa các thế hệ (Cant & Johnstone, 2008) | Mẹ chồng và con dâu cùng sinh con thì tranh nguồn lực, nên người già dừng sinh có lợi hơn | Phụ thuộc vào kiểu gia đình con dâu về nhà chồng |
Nhiều nhà nghiên cứu ngày nay cho rằng các yếu tố này có thể cùng tác động. Hawkes cũng làm thêm các mô hình toán học sau năm 1998 để xem riêng tác dụng của người bà có đủ kéo dài tuổi thọ trong thời gian tiến hoá hay không. Kết quả các mô hình còn phụ thuộc nhiều vào giả định, nên cuộc tranh luận chưa ngã ngũ.
Liên quan gì tới khôn ngoan
Giả thuyết bà ngoại khởi đầu từ chuyện thức ăn và công sức, nhưng nó mở ra một ý rộng hơn: người già có giá trị tiến hoá vì những gì họ làm cho người khác, không chỉ vì những gì họ tự làm được. Ở loài người, ngoài công sức, người già còn giữ trí nhớ về những năm hạn hán, những loại cây ăn được, những lần xảy ra dịch bệnh, những quy tắc ứng xử của cộng đồng. Đây là loại hiểu biết tích luỹ theo năm tháng, và cá voi sát thủ cho thấy ngay cả ở loài khác, nó cũng có thể là vấn đề sống còn.
Ở nhiều gia đình Việt Nam, hình ảnh bà ngoại, bà nội trông cháu để bố mẹ đi làm vẫn rất quen thuộc. Giả thuyết của Hawkes không nói rằng đây là "bổn phận tự nhiên" của người bà; nó chỉ gợi ý rằng sự hợp tác giữa các thế hệ có lẽ đã ăn sâu vào lịch sử loài người hơn ta tưởng.
Góc nhìn hôm nay
- Nhìn tuổi già như một chặng có vai trò, không chỉ là chặng suy yếu. Câu hỏi đáng hỏi ông bà mình không phải "ông bà còn làm được gì" mà là "ông bà biết gì mà con cháu chưa biết".
- Ghi lại kiến thức của người lớn tuổi trong nhà: cách nấu món cũ, chuyện làng, kinh nghiệm làm nghề. Đây là thứ mất đi rất nhanh và rất khó tìm lại.
- Chia việc trông cháu một cách công bằng. Sự giúp đỡ của ông bà quý vì là tự nguyện; sức khoẻ ông bà cũng cần được để ý.
Về tuổi mãn kinh như một thay đổi sức khoẻ của từng người, những câu hỏi về triệu chứng hay điều trị nên hỏi bác sĩ; bài này chỉ bàn ở góc tiến hoá. Muốn đọc thêm, có thể tìm cuốn Mothers and Others của Sarah Blaffer Hrdy (2009), viết về vai trò của những người cùng chăm trẻ, trong đó có người bà, trong lịch sử loài người.
Câu hỏi thường gặp
Giả thuyết bà ngoại là gì?
Đây là giả thuyết cho rằng phụ nữ sống lâu sau tuổi mãn kinh vì người bà giúp con gái nuôi cháu, làm tăng số con cháu sống sót, nhờ đó gen sống lâu được chọn lọc. Kristen Hawkes và cộng sự trình bày nổi tiếng nhất năm 1998, dựa trên nghiên cứu người Hadza ở Tanzania.
Vì sao con người có tuổi mãn kinh mà nhiều loài khác không có?
Đây là câu hỏi còn tranh luận. Các lời giải chính gồm giả thuyết bà ngoại, giả thuyết người mẹ dừng sinh để nuôi con đã có, và giả thuyết tránh tranh giành nguồn lực giữa hai thế hệ cùng sinh con. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng các yếu tố này cùng tác động.
Có bằng chứng nào cho thấy bà giúp cháu sống sót không?
Có. Sổ sách giáo xứ Phần Lan và Canada thế kỷ 18–19 (Lahdenperä và cộng sự, 2004) cho thấy cháu có bà ở gần sống sót tốt hơn. Tổng hợp của Sear và Mace (2008) cho thấy tác dụng rõ nhất ở bà ngoại, còn bà nội thì kết quả lẫn lộn.
Ngoài người, loài nào có tuổi mãn kinh?
Cá voi sát thủ và một vài loài cá voi có răng khác. Ở cá voi sát thủ, con cái đã ngừng sinh sản thường dẫn đàn đi kiếm cá hồi, nhất là năm thức ăn khan hiếm (Brent và cộng sự, 2015).
Có phải người xưa ai cũng chết trẻ không?
Không hẳn. Tuổi thọ trung bình lúc sinh thấp chủ yếu do trẻ em chết nhiều. Ở các nhóm săn bắt hái lượm, người qua được tuổi thiếu niên thường sống tới sáu, bảy mươi tuổi, theo tổng hợp của Gurven và Kaplan (2007).