Tăng quảng hiền văn (增廣賢文) là tập câu khôn phổ thông của Trung Hoa, không rõ người soạn, hình thành khoảng đời Minh và được bổ sung thêm qua đời Thanh. Sách còn có tên Tích thời hiền văn (昔時賢文), lấy từ câu mở đầu. Nội dung là hàng trăm câu ngắn có vần, gom từ kinh sách, thơ, kịch, tục ngữ dân gian, dạy cách nhìn người, giữ mình và ứng xử. Nhiều câu người Việt vẫn nói hằng ngày mà không biết gốc, như "Hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm".
Sách ra đời thế nào
Không có tác giả, không có năm xuất bản rõ ràng. Tên sách thường được nêu là xuất hiện sớm nhất trong vở kịch Mẫu Đơn Đình (牡丹亭) của Thang Hiển Tổ, viết năm 1598 đời Vạn Lịch nhà Minh, cho thấy lúc đó sách đã lưu hành. Từ đó tới cuối đời Thanh, nhiều người thêm bớt, nên các bản còn lại khác nhau khá nhiều về độ dài và thứ tự câu.
Chữ "tăng quảng" nghĩa là thêm cho rộng ra, ngụ ý đây là bản đã được bổ sung. "Hiền văn" là lời của người hiền. Câu mở đầu nói rõ mục đích: gom lời hay ý đẹp của người xưa, sắp thành vần để dạy cho kỹ, giúp người học "thấy nhiều nghe nhiều".
Sách thuộc nhóm sách vỡ lòng và đọc thêm của trẻ em học chữ Hán, cùng loại với Tam tự kinh, Thiên tự văn, Minh tâm bảo giám. Nhưng khác các sách kia ở chỗ rất ít lý thuyết đạo đức, mà nghiêng hẳn về kinh nghiệm đời: cách nhìn người, cách giữ mình, chuyện giàu nghèo, ấm lạnh tình người.
Những câu người Việt quen miệng
Rất nhiều câu trong Tăng quảng hiền văn đã đi vào tiếng Việt qua truyện Tàu, tuồng, phim và lời ông bà. Có câu không bắt nguồn từ sách này mà sách chỉ gom lại từ nguồn cũ hơn.
| Âm Hán Việt | Nghĩa | Ghi chú về nguồn |
|---|---|---|
| Hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm | Vẽ hổ vẽ được da khó vẽ được xương, biết người biết mặt không biết lòng | Có trong Tăng quảng; vế sau đã có trong văn học đời Nguyên |
| Lộ dao tri mã lực, nhật cửu kiến nhân tâm | Đường xa mới biết sức ngựa, ngày lâu mới thấy lòng người | Thấy trong tạp kịch đời Nguyên, được Tăng quảng gom lại |
| Nhân bất khả mạo tướng, hải thuỷ bất khả đấu lượng | Người không thể xem tướng mạo mà đoán, nước biển không thể lấy đấu mà đong | Thường gặp trong tiểu thuyết đời Minh – Thanh |
| Nhất thốn quang âm nhất thốn kim, thốn kim nan mãi thốn quang âm | Một tấc thời gian là một tấc vàng, tấc vàng khó mua được tấc thời gian | Vế đầu đã có trong thơ đời Đường |
| Bần cư náo thị vô nhân vấn, phú tại thâm sơn hữu viễn thân | Nghèo ở giữa chợ không ai hỏi, giàu ở núi sâu có họ hàng xa tìm tới | Câu tiêu biểu cho giọng chua chát của sách |
| Phùng nhân chỉ thuyết tam phân thoại, vị khả toàn phao nhất phiến tâm | Gặp người chỉ nói ba phần, chưa nên trao hết cả tấm lòng | Câu hay bị phê là dạy đa nghi |
| Hữu tửu hữu nhục đa huynh đệ, cấp nạn hà tằng kiến nhất nhân | Có rượu có thịt thì lắm anh em, lúc hoạn nạn chẳng thấy một ai | Gần ý với tục ngữ Việt về bạn bè lúc khó |
Vì sách là tuyển tập nhiều lớp, câu "có trong Tăng quảng" không có nghĩa là "do Tăng quảng đặt ra". Khi viết, cách an toàn là ghi "câu này có trong Tăng quảng hiền văn", và nếu biết nguồn sớm hơn thì nêu thêm.
Hai giọng trong một cuốn sách
Đọc liền một mạch sẽ thấy sách có hai giọng xen nhau, đôi khi ngay trong hai câu liền kề.
Giọng khuyên thiện
Đây là phần gần với Nho giáo và đạo đức dân gian: hiếu với cha mẹ, chăm học, quý thời gian, làm việc thiện, giữ chữ tín, biết đủ. Câu về tấc thời gian, tấc vàng thuộc giọng này. Trẻ học xong có thể hiểu được ngay, và người lớn cũng không thấy xa lạ.
Giọng phòng người
Phần còn lại là kinh nghiệm của người từng bị đời dạy cho đau: lòng người khó biết, giàu thì người tới nghèo thì người đi, gặp ai cũng chỉ nên nói ba phần. Giọng này thực tế tới mức lạnh. Nhiều nhà giáo dục Trung Hoa thời cận đại đã phê sách là dạy trẻ con đa nghi, thực dụng, coi tình người như cuộc mua bán.
Cả hai nhận xét đều đúng một phần. Sách không phải giáo khoa đạo đức mà là kho kinh nghiệm của xã hội trọng quan hệ, nơi một lần tin nhầm người có thể mất cả cơ nghiệp. Giọng phòng người là thứ người xưa đã trả giá mới có. Cái sai là đọc nó như một triết lý sống trọn vẹn.
So với tục ngữ Việt
Nhiều câu của Tăng quảng có "anh em" trong tục ngữ Việt, cho thấy kinh nghiệm này không riêng của người Hoa:
- "Lộ dao tri mã lực, nhật cửu kiến nhân tâm" gần với ý ca dao "Thức khuya mới biết đêm dài, ở lâu mới biết con người có nhân" (vế sau có dị bản "ở lâu mới biết là người có nhân").
- "Hữu tửu hữu nhục đa huynh đệ" gần với cảnh bạn bè lúc khó trong ca dao: lúc có thì đông, lúc khó mới biết ai thật lòng.
- "Nhân bất khả mạo tướng" gần với "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn".
Điểm khác: tục ngữ Việt ít khi có giọng "chỉ nói ba phần". Người Việt cũng dè dặt, nhưng thường đi đường vòng, như câu "Người khôn ăn nói nửa chừng", chứ không khuyên giữ lòng ra mặt như vậy. Đó là một chỗ so sánh thú vị cho người thích văn hoá.
Chỗ dễ sai
- Gán câu cho Khổng Tử: nhiều câu trong sách bị trích trên mạng thành "Khổng Tử nói". Phần lớn không có trong Luận ngữ.
- Nhầm với Minh tâm bảo giám: hai sách có nhiều câu trùng nhau vì cùng gom từ nguồn chung, nhưng là hai sách khác nhau. Minh tâm bảo giám có trước, xếp theo chủ đề, thiên về đạo đức hơn.
- Dị bản: câu về hổ có bản chép "hoạ long hoạ hổ nan hoạ cốt" (vẽ rồng vẽ hổ khó vẽ xương). Ý không đổi; khi trích nên biết cả hai cách để khỏi tưởng một bên chép sai.
- Coi là sách cổ: so với Đạo Đức Kinh hay Luận ngữ, đây là sách muộn, cuối thời phong kiến, phản ánh xã hội Minh – Thanh.
Góc nhìn hôm nay
Tăng quảng hiền văn đáng đọc như một tấm gương của xã hội cũ: người ta sợ gì, tin gì, đã bị phản bội vì đâu. Đọc xong sẽ hiểu vì sao ông bà mình hay dặn "đừng nói hết với người ngoài", và cũng thấy mình có thể chọn khác.
Một việc làm được: chọn ba câu trong bảng trên mà bạn thấy đúng nhất với kinh nghiệm của mình, và một câu bạn thấy không nên theo. Viết một dòng giải thích vì sao. Bài tập nhỏ này giúp đọc sách khuyên răn như người trưởng thành, biết lấy và biết bỏ, thay vì nhận cả gói.
Muốn đọc nguyên văn: các bản chữ Hán có chú âm và chú thích hiện đại của Trung Quốc in rất nhiều, dễ tìm. Bản dịch tiếng Việt cũng có, nên chọn bản có kèm nguyên văn Hán để đối chiếu.
Câu hỏi thường gặp
Tăng quảng hiền văn là sách gì?
Đó là tập câu khôn phổ thông của Trung Hoa, không rõ người soạn, hình thành khoảng đời Minh và được bổ sung qua đời Thanh. Sách gom hàng trăm câu ngắn có vần về cách nhìn người, giữ mình và ứng xử, dùng để dạy trẻ học chữ Hán và người bình dân.
Tăng quảng hiền văn do ai viết?
Không rõ tác giả. Sách là tuyển tập gom từ kinh sách, thơ, kịch và tục ngữ dân gian, nhiều người thêm bớt qua các đời. Tên sách thường được nêu là xuất hiện sớm nhất trong vở Mẫu Đơn Đình của Thang Hiển Tổ năm 1598.
"Hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt" nghĩa là gì?
Câu đầy đủ là "Hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm": vẽ hổ vẽ được da khó vẽ được xương, biết người biết mặt không biết lòng. Câu có trong Tăng quảng hiền văn, ý nói bề ngoài dễ thấy, lòng người khó biết.
Tăng quảng hiền văn khác Minh tâm bảo giám thế nào?
Minh tâm bảo giám có trước, xếp câu theo chủ đề và thiên về đạo đức. Tăng quảng hiền văn ra đời muộn hơn, viết thành vần liền mạch và nghiêng về kinh nghiệm đời, có nhiều câu mang giọng phòng người. Hai sách trùng nhau một số câu vì cùng gom từ nguồn chung.
Vì sao Tăng quảng hiền văn bị phê bình?
Vì nhiều câu khuyên dè chừng người khác, như "gặp người chỉ nói ba phần", bị cho là dạy trẻ đa nghi và thực dụng. Cách đọc hợp lý là coi đó là kinh nghiệm của xã hội cũ, lấy phần hợp lý và bỏ phần không hợp với mình.